Categories
POETRY/THƠ

Lê Vĩnh Tài | TIBET (9/10)

Lê Vĩnh Tài is a Vietnamese poet, a resident of the West Highlands. A retired medical doctor, currently an acclaimed businessman in Buon Ma Thuot.

The original epic poem was published in 2015, and I had began the translation of Tibet by Lê Vĩnh Tài​ mid July 2019, it took me more than a year to fully finalised and published the translation on #songngutaitram .

I’m hoping to one day get the opportunity to read this incredible poem for you live.

you stand
silent
a mountain imposing
into the clouds biting
two arms two wings
flying…
_____
người đứng
lặng im
sừng sững như một ngọn núi
cắn vào mây
hai tay hai cánh
bay…

By Lê Vĩnh Tài, translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

 

Tibetans

upon the mountain

the monastery’s yards again swept

 

the leaves fallen in tears

the lonely sunset wept

watched the strangers

lectured

now old and silent

alone

plotted for the sea

 

Tibetans

you’re the mountain, breath of fire

the wind and rain

burned and wept with longing

 

though the sea isn’t your home

the loneliness locked up

you searched still for the flame

a matchstick in three strikes before it ignites

lit even the spirit

you’re aware of

the swift’s nest

dangling cliffside, nature endangered 

as they climb over the scaffold

crawled in

knives scrapping

 

the swift hovered by the cliffside

wept as the strangers

only knew how to flip nests drop eggs

the lustful

savagery

 

Tibetans

heading for the sea, knew the strangers 

were the cause of the waves

into death pounded

sound like a sinking vow

hinted of the by gone days

coral reefs like the buried spikes

The history of Bạch Đằng

 

the strangers

with barely any feathers but wants to fly

hid behind the tides crawled up the sand

turtles, not laying eggs

the daggers

the battleships

 

you knew in the end

the strangers shall fall into the abyss 

like the swift chicks thrown from their nest 

flipped 

feathers

plucked

 

hence you continued to compose poetry

since the ode, like the sea is fearless

since salt is as salty as blood

since the vernacular is the brows of warriors

 

Tibet

the cold demeanour of snow caps

gone

left in a glance in the flames of your making

never distinguishing

composed your ode

light from mountain to sea piercing

the vernacular never retreating

 

Tibet

you’re the gentle swifts

hence the vernacular of the ode couldn’t be silenced

even when you’re injured

in flames falling exploded

by the bombs 

the sky lowered

 

the birds

shall fly, in its beak the grass seeds

in each morning

your smiles

as brilliant as the angel’s halo

responsible for holding up the waves

like clockwork

knew how long it would take to reach the stars 

like lovers

counting each minutes

steeped in the scent of love

 

the world of the birds

a horizon

where people would be side by side with the gods

where people would intently listened to the flapping of wings

hovered between heaven and earth

where people would dream of moonlight

lighting cavalcades

shining

the peace

 

When, Tibet?

_____

 

Tây Tạng

trên ngọn núi 

người sẽ quét lại sân chùa 

 

lá rơi như tiếng khóc 

đơn độc hoàng hôn 

ngắm nhìn kẻ lạ

từng rao giảng 

giờ già nua im lặng 

một mình

âm mưu mò ra biển

 

Tây Tạng

người là núi, thở ra lửa 

gió và mưa 

cháy và chảy trong thương nhớ

 

nên dù biển không phải căn phòng 

bị khóa nỗi cô đơn 

người vẫn tìm ngọn nến

một que diêm quẹt ba lần mới cháy

thắp sáng cả linh hồn 

người biết

tổ chim yến 

treo trên vách đá sự hồn nhiên bị đe dọa 

khi bọn họ trèo qua giàn giáo

chui vào

dao cạo

 

chim yến cheo leo vách đá

phải khóc ròng vì kẻ lạ

chỉ biết hất tổ đổ trứng

sau cơn nứng

dã man

 

Tây Tạng

người biết kẻ lạ khi mò ra biển

làm những con sóng 

đập thình thịch vào cái chết 

chìm sâu như lời nguyền

nhắc nhở quá khứ

những rạn san hô như bãi chông 

bạch đằng lịch sử

 

những kẻ lạ

chưa đủ lông đã mong đủ cánh 

núp sau thủy triều bò lên cát 

như con rùa không đẻ trứng

mà thách thức với con dao

găm bên hông tàu chiến

 

người biết cuối cùng

kẻ lạ sẽ té vào vực thẳm 

như những chú chim yến non mà chúng đã từng 

hất tổ

nhổ 

lông 

 

nên người tiếp tục làm thơ 

vì bài thơ, như biển, không biết sợ

vì muối mặn như máu

vì chữ nghĩa như hai vệt lông mày của chiến binh 

 

Tây Tạng

vẻ mặt lạnh như băng tuyết của người 

đã mất

để ánh mắt như ngọn lửa của người

không tắt

người viết bài thơ của chính mình 

tia sáng từ núi xuyên qua biển

ngôn ngữ không thể lùi

 

Tây Tạng

người dịu dàng chim yến

làm ngôn ngữ bài thơ không im lặng 

cả khi người bị thương 

trong ngọn lửa bốc cao 

và tiếng bom rơi làm bầu trời hơi 

thấp

 

những chú chim này 

sẽ bay, với hạt cỏ trong mỏ 

mỗi buổi sáng 

vòng quanh mọi người

cười như hào quang thiên thần 

nhiệm vụ của nó giữ cho các con sóng

nhịp nhàng như đồng hồ 

đếm thời gian bay đến những vì sao 

như những người yêu nhau

đếm từng bước chân trần

đẫm mùi yêu dấu

 

thế giới những chú chim 

là bầu trời

nơi con người tiếp giáp với thần linh 

nơi con người lắng nghe tiếng của đôi cánh 

lơ lửng trời và đất

nơi mọi người nằm mộng với ánh trăng

chiếu sáng những đám rước

lung linh

trong hòa bình

 

bao giờ, Tây Tạng?

By Nguyễn Thị Phương Trâm

There's magic in translating a body of work from one language to another.

3 replies on “Lê Vĩnh Tài | TIBET (9/10)”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s