Lê Vĩnh Tài | TIBET (2/10)

Lê Vĩnh Tài, the Vietnamese poet and translator, born 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands, a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, born 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

By Lê Vĩnh Tài, translation by Nguyễn Thị Phương Trâm



as you from the clouds departed

no one dare thought

to bind the hands of the living



the thunder dare not make you 

spies of burning flames


you alone remaining


bearing the wrath the curses

yet enlightened?


“…China charges the Dalai Lama with fraud on May 14th, after the head of the Tibet Buddhist leaders accuse China of training Tibetian women to apply poison to their hair or scarves so he can be exposed to the poison during a blessing…”



by the summit

your haggard arms

beholding a babe yet born

because the children born, have been set on fire




the dead people on their way to reincarnation

the missing people

the people searching

leaving footprints, hills

tree groves, in clouds

in the form of a person

in the form of a nation

at attention

could but look up at the sky





an emptiness enormous

requiring only your absent

in falling




Will we eat only to surpass hunger?


will we sleep just to dream?


will we be awake enough to open our mouths

and spit out the blood?


When, Tibet?


devoting nine lifetimes now to a religious life 

to shake your fist, why?

The Lama now a spectre

evidence of existence

when existing meant denial

the omnipotence of squirming larvae



days change from red to black

black to the colours of hair

in prayers, you knew Buddha had shed tears

to then disappeared

like Tibet

you’re still in the streets

in the camps, debating with the walls

resigning to being swallowed whole by the lord of demons



an ode

noting clearly the address

so it can’t be confiscated by customs for no reason

yet still it has been erased

sent to be shredded

into pulp


remnants of the vernacular

bread crumbs

the dove

a bewildering peace

a forsaken life mid-flight from Beijing


Tibet, perhaps

broken scatterings

in turn, fell apart?


without paper

upon your skin inscribe

letters squirming

grinding into dreams

as an electric saw grinds into tree trunks

cleared to build subways this morning

your body bleeding


perhaps the horse

now has to watch its footprints upon water?

the four-horse carriage sinking

into blankets of fog the early risers now have disappeared 

the late risers now forging ahead

with the exhaustion of digging hooves

when an ode like a nation





you are the ode

searching for its name



with all our might allow the return of the ode to its origin

skin alive be it




your highlands sprays of white foam like a vow

noted upon all levels of the sky

raining tears

without reason, you’re imprisoned

the clouds lost its light

sunlight upon hollow eyes

the reverend 

one by one

on their knees



were you cold as the ode fell

from the summit

in the rain, when you’re touching it

wind touching rain

rain touching the tears

of those imprisoned

touching each other


touching resentment 


the tears 

one part water and ninety-nine part resentment

aching spitting bile

thunderous thus

the silent flapping

of butterflies


with all our might allow the return of the ode to its origin

its body arching a crouching tiger

soon cleanse by arrows

from all angles

even though you hate the smell

the meat roasting



you’re drifting upon a red wave

colouring your nation

they want you dead in the chaos

in the sound of falling




but your borough is by the summit

the Himalaya is full of light


not just an ode


you’ve left behind the muse

ingratiating prostitutes

acting as courtesan

stripping upon letters to survive





your ode the gentle nights

fragile fronds dusty soil

misty breaths

quiet steps

eyes shutting

never retreating


now nothing belongs to thee

they have taken everything

including the blessed rocks

in the monastery


but hidden in the dark of night

your nation the moon

a marked once on the map

had once an emperor

a palace once, more opulent than an ode

masked beggars holding silver bowls

singing day long


you had to leave your country

Tibet, yet your face still as clouds

your age grey pebbles




your destiny 

forever there resides


your fight non-existent

in dreams of exile

But does exile mean non-existence?

but does it?

forget it…


still are the flames

young lamas at the foot of the mountain

Tibet at the moment “has no prisoners”.

only the people

and a prison, a sombre hell


children dying at every turn of event

– non-existent

reverends slaughtered under soft blades

– non-existent

temples perishing encase in grey rocky hellholes

– non-existent

corpses still wrapped in red flags

– non-existent

lamas growing their hair in hiding

– non-existent

the North and the South already gone

the East and the West no more

the opulence

yours, now scattering little children

in the mud…



are you too young or too old?

are you inhaling or exhaling

as smoke, where they discard their cigarette butt

as uncountable blood and bone, the piles of ashes



they want you to trek from mountain to field 

the East Sea how far

How many knots?


we together wept:

a ten thousand miles march

China oh China

How many have fallen

from the summit


their life?



a ferocious wind at the border

the decades, free in the wind was your flag

in intimate games with emperors

and the idea of existing

in death, you are victorious

your history: – non-existent

the negotiations

on an exploding aeroplane



a homeland

the image of an ancient blade

your prosperity and failures

– non-existent

you’re searching for souls

in 1,4 million strangers

– non-existent

hence love is non-existent

I love you

they shouted: proudly

you who

you too

who resents the smell of incense



you’re not Guangdong or Guangxi


your courage in your fist


within your heart


in the member and the womb

the heat



How long must you wait?

When will the flame


into your



“Reverend Tsering Gyal, 20 years old, self-immolated on Monday, November 11th at Guolou, an area where many Tibetian reside in the province of Qinghai, North-West China. 


The police put out the fire and brought the reverend Gyal to the hospital, and people do not know the current state of this person. “


Tây Tạng

khi người chạy trốn khỏi đám mây 

tưởng không ai dám trói tay 

đức Phật



tưởng sấm sét không dám bắt người làm con tin

cho lửa


người duy nhất còn lại

chưa bị đốt cháy 

đang chịu nguyền rủa 

tại sao chưa chịu giác ngộ?


“… Trung Quốc lên án Đạt Lai Lạt Ma là dối trá hôm 14.5, sau khi nhà lãnh đạo tinh thần của Phật giáo Tây Tạng tố giác các đặc vụ Trung Quốc đã huấn luyện những phụ nữ Tây Tạng bôi chất độc lên tóc hoặc khăn choàng của họ để ông sờ phải khi ban phúc lành…”


Tây Tạng

tít trên đỉnh núi 

hai cánh tay người xương xẩu 

ôm một hài nhi chưa sinh ra

vì những bé sinh ra đã bị đốt

hay thiêu



những người chết trên đường luân hồi

những người mất tích 

những người tìm kiếm

để lại những dấu chân, những ngọn đồi

những bụi cây, trong áng mây

trong hình dạng của một con người

trong hình dạng của một đất nước 

chỉ còn ngước

lên trời

lặng im hít 



tự do

khoảng trống rộng lớn 

nhưng chỉ cần sự vắng mặt của người

là nước mắt 



bao giờ 

chúng ta ăn chỉ để vượt qua cơn đói?

bao giờ 

chúng ta ngủ chỉ để ước mơ?

bao giờ 

chúng ta tỉnh táo để mở miệng ra 

và nhổ ngụm máu trong miệng?


bao giờ, Tây Tạng?


những người chín kiếp tu hành nhưng giờ đành

lúc lắc hai nắm đấm

lạt-ma thành bóng ma

để chứng minh sự tồn tại 

dù tồn tại là để từ chối

sự toàn năng của đám loăng quăng 

và muỗi 


ngày thay đổi từ màu đỏ sang đen

từ màu đen sang màu tóc

khi tụng niệm người biết Phật cũng khóc

ròng, và biến mất

nhưng Tây Tạng

người vẫn hiên ngang 

ở lại trong trại, tranh luận với các bức tường 

và chấp nhận bị nuốt bởi quỷ vương


Tây Tạng

người chính là bài thơ 

đã ghi rõ địa chỉ người nhận 

để bưu phẩm không bị tịch thu vô cớ

nhưng nó vẫn bị xóa 

và đưa vào máy nghiền 

thành bột giấy 


chỉ còn mảnh ngôn từ

như những vụn bánh mì

chú chim câu 

hòa bình ngơ ngác

chuyến bay mất xác từ Bắc Kinh 


Tây Tạng, không lẽ

người chỉ còn những mảnh vỡ

lần lượt, tan rã?


không còn giấy

nên người đành viết lên chính cơ thể của mình

ngoằn ngoèo những con chữ

cứa vào giấc mơ 

như cưa máy cứa vào thân cây

giải tỏa làm ga điện ngầm sáng nay

làm thân người chảy máu


chẳng lẽ con ngựa 

giờ phải nhìn vào dấu chân của mình trên mặt nước?

cỗ xe tứ mã đã chìm

những người dậy sớm đã biến mất vào màn sương 

những người ngủ muộn cố gắng sải bước 

với sự mệt mỏi của vó ngựa

khi một bài thơ như một quốc gia 

vẫn chưa thể ra 



Tây Tạng

người là bài thơ

tìm kiếm tên gọi 


chúng ta

hãy cố hết sức để bài thơ quay lại nơi nó sinh ra

dù có bị lột da 

mổ bụng


Tây Tạng

thảo nguyên của người tung bọt trắng như lời nguyền 

được viết lên các tầng trời

mưa như nước mắt

khi người vô cớ bị bắt

giam, đám mây cũng tắt

nắng trên đôi mắt trống rỗng

của các nhà sư

từ từ

khụy xuống


Tây Tạng

người có lạnh khi bài thơ rơi 

từ đỉnh núi

trời mưa, khi người chạm vào nó

gió chạm vào mưa

mưa chạm vào nước mắt

những người bị bắt

chạm vào nhau

nỗi đau

chạm vào phẫn uất


nước mắt

một phần nước và chín mươi chín phần phẫn uất

cơn đau vỡ mật

ngay cả những con bướm 

tiếng cánh vẫy cũng im lặng

như tiếng sấm


chúng ta cố hết sức để bài thơ quay lại nơi nó sinh ra 

cơ thể nó uốn lượn như con hổ

sớm được rửa sạch bằng các mũi tên 

được bắn từ mọi hướng

dù người ghét mùi

thịt nướng


Tây Tạng

người bấp bênh trên làn sóng màu đỏ

nhuộm lên đất nước của người

người ta muốn người chết trong hỗn loạn

cùng tiếng rơi

của binh đao

loảng xoảng


nhưng thành phố của người tít trên đỉnh núi

himalaya nên tha hồ ánh sáng 


không chỉ bài thơ

Tây Tạng 

người bỏ lại đằng sau những nàng thơ 

õng ẹo như ả điếm 

vẫn giả danh kiều nữ

khỏa thân kiếm ăn trên con chữ




Tây Tạng

bài thơ của người là những đêm tinh tế 

bụi cây lá mỏng 

thở sương mù 

chân tu

mắt nhắm

không lùi


mọi thứ bây giờ không còn thuộc về người

người ta đã giành lấy

cả những viên đá thiêng liêng

từ tu viện


nhưng ẩn đằng sau khuôn mặt của bóng đêm

đất nước của người như mặt trăng

đã từng đánh dấu trên bản đồ 

đã từng có vua

hoàng cung đã từng lộng lẫy hơn bài thơ

những hành khất đeo mặt nạ với bát ăn bằng bạc

suốt ngày ca hát


dù phải rời khỏi đất nước 

Tây Tạng, gương mặt người vẫn như đám mây

tuổi người như đá xám 

như khoảng trống

như mênh mông 

như cỏ

số phận của người

mãi mãi còn ở đó


chiến trường của người không tồn tại

trong giấc mơ lưu vong

nhưng chẳng lẽ lưu vong là không tồn tại?

nhưng chẳng lẽ?

mà thôi…


vẫn còn ánh lửa

của những lạt-ma trẻ dưới chân núi 

Tây Tạng bây giờ “không có tù nhân” 

chỉ có nhân dân

và nhà tù, âm u địa ngục 


trẻ em đã chết trong những cuộc chuyển dạ

– không tồn tại

nhà sư đã chết dưới những lưỡi dao mềm 

– không tồn tại

các ngôi chùa đã chết trong nhà ngục đá xám

– không tồn tại

ngay cả những xác chết vẫn bọc trong lá cờ đỏ 

– không tồn tại 

những lạt-ma giả dạng tóc dài

– không tồn tại

phía bắc và phía nam đã mất 

phía đông và phía tây không còn

những vàng son

của người, thành đứa trẻ lon ton

quanh cát bụi…


Tây Tạng

người còn quá trẻ hay đã quá già?

người vẫn hít vào và thở ra 

như khói, nơi nào người ta vẫn đổ gạt tàn thuốc lá

như đống tro xương của hàng vạn cốt người

sau khi tự thiêu


người ta muốn người đi bộ từ núi xuống cánh đồng

còn cách Biển Đông

bao nhiêu hải lý? 


chúng ta đã cùng nhau khóc:

cuộc hành quân vạn dặm

Trung Hoa ôi Trung Hoa

bao nhiêu người đã rơi 

từ núi cao




Tây Tạng

ngọn gió giận dữ ở biên giới

mấy mươi năm trước người quấn lá cờ trong gió

trong một trò chơi rên xiết với mấy ông vua 

và những điều tưởng là tồn tại

cái chết, người ngỡ sẽ vinh quang

lịch sử của người: – không tồn tại

những cuộc đàm phán

trên một chiếc máy bay bị nổ

và rơi…


quê hương

giống như một lưỡi dao lãng quên

những thành tựu và những sai lầm của người

– không tồn tại

người tìm lại những linh hồn 

trong 1,4 tỷ con người lạ

– không tồn tại 

nên tình yêu cũng không còn tồn tại

ngộ ái nị

người la: oai oái

nghe ai ái

xa ngái

ai oán mùi trầm hương


không tồn tại

dù người không phải Quảng Đông và Quảng Tây

không tồn tại

dù người nắm chặt sự dũng cảm trong tay 

và ngay 

trong trái tim 


trong dương vật và tử cung

nóng bỏng


Tây Tạng

người phải chờ đến bao giờ nữa?

đến bao giờ ngọn lửa

tự thiêu

thành tình yêu

của người?


“nhà sư Tsering Gyal, 20 tuổi, đã tự thiêu hôm thứ Hai 11/11 tại Goulou, khu vực có nhiều người Tây Tạng sinh sống ở tỉnh Thanh Hải tại miền Tây Bắc Trung Quốc.


Cảnh sát đã dập tắt lửa và đưa nhà sư Gyal tới bệnh viện và người ta không biết rõ tình trạng hiện nay của người này.”

By Nguyễn Thị Phương Trâm

There's magic in translating a body of work from one language to another.

2 replies on “Lê Vĩnh Tài | TIBET (2/10)”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in: Logo

You are commenting using your account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s